Toàn bộ 11.418 ha của quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng nằm trong không gian thoát lũ, nên bài toán khó nhất không phải là vẽ đô thị mà là chứng minh việc xây dựng không làm giảm khả năng thoát lũ. Bài viết trình bày về an toàn phòng chống lũ và cách khai thác bãi sông hồng theo thềm địa hình gồm nguyên tắc “năm không” về đê điều, kết quả mô hình thủy văn – thủy lực, cách chia bãi sông thành bốn mức thềm địa hình với loại công trình được phép, điều kiện để xây nhà ở mới trên bãi và những nội dung còn chờ thẩm định.

Vì sao đây là nút thắt của cả đồ án
Khu vực nghiên cứu trải dài 40 km giữa hai tuyến đê Tả và Hữu sông Hồng. Đây chính là lòng dẫn lũ của con sông lớn nhất miền Bắc. Mọi công trình xây thêm, mọi mét khối đất tôn nền đều làm hẹp tiết diện thoát lũ và đẩy mực nước lên cao hơn ở thượng lưu.
Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình được phê duyệt tại Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18/2/2016, sửa đổi bổ sung tại Quyết định số 429/QĐ-TTg ngày 21/4/2023, đặt ra giới hạn diện tích được xây dựng và tôn cao trên bãi sông. Đồ án điều chỉnh đề xuất vượt giới hạn này, nên phải chứng minh bằng mô hình thủy lực.
Hồ sơ cũng thừa nhận đây là điểm nghẽn tồn tại lâu năm: Luật Đê điều và không gian thoát lũ luôn là thách thức cần hóa giải trong nghiên cứu phát triển hai bên sông. Đây là một trong tám vấn đề tồn tại được nêu thẳng trong phần đánh giá hiện trạng.
Nguyên tắc “năm không” về đê điều
Báo cáo tóm tắt bản dấu đỏ nêu năm điều tuyệt đối không làm. Đây là cam kết kỹ thuật quan trọng nhất của đồ án, vì nó loại bỏ đúng những giải pháp dễ làm nhưng gây rủi ro cho hệ thống đê.
- Không nâng cao các tuyến đê bối hiện có: đê bối là tuyến đê phụ bảo vệ khu dân cư ngoài đê chính; nâng cao đê bối sẽ giữ nước lại và làm dâng mực nước lũ.
- Không xây dựng đê bối mới: không tạo thêm vòng vây mới trong lòng dẫn.
- Không xây dựng các tuyến đường đắp cao thay thế đê: ngăn cách làm đường trên nền đắp cao trở thành đê trá hình.
- Không thu hẹp không gian thoát lũ: giữ nguyên tiết diện dòng chảy.
- Không đề xuất giải pháp đê mới nằm trong đê cũ: loại bỏ phương án co hẹp hành lang bằng cách xây tuyến đê mới lùi vào trong.
Hệ quả trực tiếp của nguyên tắc này là hướng tuyến đại lộ phải bám sát hệ thống đê hiện hữu để tận dụng hạ tầng sẵn có, thay vì cắt ngang bãi sông trên nền đắp cao. Đó là lý do phần lớn chiều dài hai tuyến dùng mặt cắt 54 m đi sát đê và tận dụng chính mặt đê hiện tại làm đường bên.
Mô hình thủy văn – thủy lực và cơ sở pháp lý
Cơ sở khoa học của toàn bộ phần bãi sông là Báo cáo tổng hợp lập mô hình tính toán thủy văn, thủy lực, đánh giá tác động đến an toàn thoát lũ do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam lập.
Kết quả mô hình đã được UBND thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất tại Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6/5/2026. Tài liệu được Ban Quản lý đồ án quy hoạch kiến trúc bàn giao tháng 5/2026 và trở thành căn cứ xác định hướng tuyến, cao độ thiết kế trục đại lộ, cao độ san nền các khu vực trong dự án cùng các giải pháp kè, nạo vét lòng sông.
Các thông số thiết kế được xác lập từ mô hình này:
- Tiêu chuẩn phòng chống lũ: chu kỳ lặp 500 năm đến năm 2030 và 700 năm đến năm 2050.
- Mực nước lũ thiết kế tại Hà Nội: +13,4 m, tương ứng lưu lượng 20.000 m³/s.
- Cao độ san nền: theo tần suất khoảng 2%.
- Công viên chuyên đề: cao độ theo tần suất khoảng 10%, tức chấp nhận ngập thường xuyên hơn.
- Nạo vét lòng sông: đoạn Lĩnh Nam – Thanh Trì nạo vét xuống cao độ +4,5 m để tăng khả năng thoát.
Việc nâng tiêu chuẩn từ 500 năm lên 700 năm trong vòng 20 năm phản ánh yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời cũng đặt ra ràng buộc chặt hơn cho các dự án triển khai về sau.
Diện tích bãi sông được khai thác
Theo mô hình đã được thống nhất, tổng diện tích bãi sông khai thác là 7.582 ha, chia theo cao độ thềm địa hình.
| Hạng mục | Diện tích | Tỷ lệ |
|---|---|---|
| Thềm cao trên 11,5 m | ~4.000 ha | 52,8% |
| Thềm 9,5 – 11,5 m | ~1.390 ha | 18,3% |
| Thềm dưới 9,5 m | ~2.445 ha | 32,2% |
| Các bãi nổi | ~290 ha | — |
| Mặt nước sông | ~3.546 ha | — |
Ba tỷ lệ phần trăm cộng lại là 103,3%. Đây là sai số làm tròn ngay trong tài liệu gốc, người đọc nên căn cứ vào diện tích tuyệt đối thay vì tỷ lệ.
Điểm đáng chú ý là hơn một nửa diện tích bãi sông nằm ở thềm cao trên 11,5 m, tức là mức có thể xây dựng. Đây chính là quỹ đất tạo ra sức hấp dẫn của toàn dự án, và cũng là phần gây tranh luận nhiều nhất về an toàn thoát lũ.
Bốn mức thềm địa hình và loại công trình được phép
Thay vì tôn nền đồng loạt để chống ngập, đồ án chấp nhận cho phần thấp bị ngập theo mùa và chỉ bố trí ở đó những chức năng chịu được ngập. Báo cáo tóm tắt bản dấu đỏ chia thành bốn mức, chi tiết hơn cách trình bày ba mức thường thấy trên báo chí.
| Cao độ | Định hướng khai thác |
|---|---|
| Trên 11,5 m | Khu vực có thể xây dựng mới |
| 9,5 – 11,5 m | Không gian linh hoạt; tổ chức công trình thích ứng, chấp nhận ngập như nhà nổi, nhà sàn; công viên vui chơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng; giữ dân cư hiện có |
| 7,5 – 9,5 m | Ưu tiên bố trí đường bộ và công viên ven sông bán ngập |
| Dưới 7,5 m | Đường dạo và công viên ngập nước, phục hồi sinh thái |
Ý nghĩa thực tiễn của bảng này rất lớn. Với người dân đang sống ngoài đê, cao độ nền nhà quyết định việc khu vực của mình thuộc diện được xây dựng bình thường, phải chuyển sang công trình thích ứng ngập, hay chỉ còn là công viên. Với nhà đầu tư, đây là căn cứ đầu tiên để đánh giá một khu đất có thể phát triển được đến đâu.
Cách tiếp cận này cũng là câu trả lời cho vấn đề tồn tại thứ ba đã nêu trong đồ án: các khu dân cư hiện trạng trước đây chủ yếu được cải tạo theo hướng giữ nguyên ổn định, thiếu mô hình đô thị thích ứng lũ hoặc có thể sống cùng lũ.
Hai điều kiện cứng để được xây nhà ở mới trên bãi sông
Không phải cứ nằm ở thềm cao trên 11,5 m là được xây nhà ở. Báo cáo tóm tắt nêu thêm hai điều kiện thủy lực phải thỏa mãn đồng thời đối với hoạt động phát triển kinh tế xã hội và xây dựng công trình nhà ở mới:
- Chiều rộng bãi sông lớn hơn 500 m: bãi phải đủ rộng để dòng lũ có không gian dàn trải.
- Vận tốc dòng chảy trên bãi nhỏ hơn 0,2 m/s: ứng với lũ thiết kế, dòng chảy trên bãi phải đủ chậm để không gây xói lở và không tạo áp lực lên công trình.
Hai điều kiện này lọc rất mạnh. Chúng loại bỏ các đoạn bãi hẹp, nơi dòng chảy bị ép và tăng tốc, ngay cả khi cao độ nền đủ. Trên thực tế điều đó có nghĩa là quỹ đất thực sự xây được nhà ở nhỏ hơn đáng kể so với con số 4.000 ha thềm cao.
Quy mô vượt so với Quyết định 257 và những gì còn để ngỏ
Đây là nội dung nhạy cảm nhất của hồ sơ. Báo cáo tóm tắt bản dấu đỏ nêu diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông tăng hơn 1.000 ha so với diện tích được quy định tại Quyết định số 257/QĐ-TTg.
Một số bài báo đưa con số cụ thể hơn là 3.900 ha so với mức giới hạn 2.128 ha, tức chênh khoảng 1.772 ha. Tài liệu chính thức trong hồ sơ lấy ý kiến chỉ ghi mức “tăng hơn 1.000 ha”, nên đây là con số nên dùng cho tới khi có văn bản phê duyệt.
Về thẩm quyền quyết định, phần kiến nghị của hồ sơ ghi rõ:
“Diện tích xây dựng trên bãi sông được đề xuất trên cơ sở Báo cáo mô hình tính toán thủy văn, thủy lực – Cần có ý kiến thẩm định, chấp thuận của các cơ quan chuyên ngành về đê điều và phòng chống thiên tai (Sở Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan quản lý đê điều, thủy lợi).” — Phần kiến nghị, Báo cáo Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng.
Phần kiến nghị của đơn vị lập quy hoạch nêu rõ ba nội dung còn phải chờ:
- Thẩm định diện tích xây dựng trên bãi: diện tích được đề xuất trên cơ sở báo cáo mô hình thủy văn, thủy lực, cần có ý kiến thẩm định và chấp thuận của các cơ quan chuyên ngành về đê điều và phòng chống thiên tai, gồm Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan quản lý đê điều, thủy lợi.
- Phương án phòng chống lũ từng dự án: khi lập quy hoạch chi tiết, các dự án thành phần phải có phương án, giải pháp phòng chống lũ, tai biến khí hậu, sạt trượt lở đảm bảo tuyệt đối an toàn đê điều và được cơ quan quản lý chuyên ngành chấp thuận.
- Kiểm soát cao độ nền: việc phát triển công trình tại các khu vực này phải được kiểm soát chặt chẽ về cao độ nền xây dựng trong giai đoạn lập quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư.
Nói cách khác, con số diện tích bãi sông được khai thác trong hồ sơ hiện nay là đề xuất của đơn vị tư vấn dựa trên mô hình thủy lực, chưa phải là con số đã được cơ quan quản lý đê điều chấp thuận chính thức.
Giải pháp thích ứng lũ trong thiết kế công trình
Ngoài các ràng buộc về cao độ, đồ án đưa ra một số giải pháp kỹ thuật cho công trình nằm trong vùng có thể ngập.
- Module kiến trúc tháo dỡ được: các công trình cảnh quan sử dụng module có thể tháo dỡ khi có lũ.
- Đê lũ sinh thái dạng bậc thang: thay cho kè bê tông thẳng đứng, tạo nhiều cao độ trung gian.
- Vườn mưa giữ phù sa: tận dụng đặc tính bồi lắng của sông Hồng thay vì chống lại nó.
- Công viên bảo tồn tự nhiên: bố trí tại các khu vực ngập nước thường xuyên phía ngoài đê bối.
- Vùng không gian thoát lũ đặc trưng: tích hợp các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, thiên tai, đảm bảo tiêu thoát nước tự nhiên phù hợp đặc điểm cảnh quan bãi sông.

Ba định hướng được ưu tiên xuyên suốt là An toàn – Sinh thái – Giao thông, theo đúng thứ tự đó. Trật tự này giải thích vì sao trong nhiều đoạn tuyến, phương án chọn là làm cầu cạn hoặc hầm chui tốn kém hơn thay vì đắp nền.
Hiện trạng đê điều làm nền cho các quyết định kỹ thuật
Các quyết định trên được đặt trên nền hiện trạng đê điều đã được khảo sát chi tiết.
| Hạng mục | Thông số |
|---|---|
| Đê Hữu Hồng | Dài 45,8 km; 37,71 km cấp đặc biệt từ Km47+980 đến Km85+689; cao trình +11,8 m đến +16,7 m; mặt đê rộng 8–17,5 m |
| Đê Tả Hồng | Đê cấp 1, dài 35,6 km; cao trình +11,6 m đến +16,1 m |
| Đê bao, đê bối bờ Hữu | 4 tuyến |
| Bờ bao bờ Tả | 3 tuyến |

Các mức báo động lũ được ghi nhận tại ba trạm đo: Sơn Tây tương ứng cao trình 12,4 – 13,4 – 14,4 m; Long Biên 9,5 – 10,5 – 11,5 m; An Cảnh 7,2 – 8,2 – 9,1 m.
Đánh giá của hồ sơ là ứng với ba mức báo động lũ, các tuyến đê chính đảm bảo đủ mặt cắt ngang và cao trình chống lũ thiết kế. Riêng các tuyến đê bối chỉ đảm bảo chống lũ ở mức báo động 2 đối với từng khu vực cụ thể.
Chính đánh giá này là căn cứ cho nguyên tắc không nâng cao và không xây mới đê bối: các tuyến đê bối được giữ nguyên năng lực hiện tại, còn khu dân cư phía trong chúng phải xử lý bằng cao độ nền và loại hình công trình, không phải bằng cách nâng đê.
Điều người dân và nhà đầu tư cần theo dõi tiếp
Hồ sơ đang ở giai đoạn lấy ý kiến, chưa được phê duyệt. Với nội dung an toàn lũ, có ba mốc cần theo dõi.
- Ý kiến thẩm định về đê điều: quyết định diện tích bãi sông thực sự được xây dựng và tôn cao.
- Quy hoạch chi tiết 1/500: nơi cao độ nền của từng khu đất được xác định chính xác, thay cho định hướng theo thềm ở tỷ lệ 1/5000.
- Phương án phòng chống lũ của từng dự án thành phần: điều kiện bắt buộc để dự án được chấp thuận.
Với người dân đang sinh sống ngoài đê, câu hỏi thiết thực nhất là cao độ nền khu vực mình đang ở thuộc mức thềm nào trong bốn mức nêu trên. Đây cũng là nội dung nên nêu cụ thể khi góp ý vào hồ sơ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày 7/9/2026.
Tài liệu hồ sơ quy hoạch (bản gốc)
Tài liệu dưới đây trích từ hồ sơ lấy ý kiến bản dấu đỏ do Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội lập. Bấm Xem để mở tài liệu trong tab mới, hoặc Tải về để lưu bản đầy đủ.
- Định Hướng Phát Triển Đột Phá Cho 6 Vùng Kinh Tế – Xã Hội Đến Năm 2030
- 27 Siêu Dự Án BĐS Tỷ USD Chuẩn Bị Gia Nhập Thị Trường: Vingroup Giữ Nhiều Đại Đô Thị Quy Mô Lớn
- “Định Luật Thịnh Vượng” Của Các Vịnh Biển Toàn Cầu: Vinhomes Hai Van Bay Mở Ra Chương Mới Cho Đô Thị Ven Vịnh Đà Nẵng
- THE OPUS ONE – MẢNH GHÉP CUỐI CÙNG HOÀN THIỆN KIỆT TÁC ĐẠI ĐÔ THỊ
- TÌM ĐÂU CĂN HỘ CAO CẤP GIÁ TỐT NHẤT KHU ĐÔNG?



Zalo